This page looks plain and unstyled because you're using a non-standard compliant browser. To see it in its best form, please upgrade to a browser that supports web standards. It's free and painless.
Nếu đem phân tích cặn kẽ các yếu tố cấu thành lên cuộc đời con người một cách độc lập, riêng rẽ theo những tuyến sơ đồ, có lẽ trong cuộc đời này chưa từng có ai làm và tất nhiên chẳng có ai dám mạo hiểm mà làm cái công việc này cả. Bởi cuộc đời một con người là chằng chịt những mối quan hệ, tương tác đan cài với nhau, xen lồng vào nhau theo những mối liên hệ dọc, ngang tự nhiên giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, với vạn vật trong vũ trụ, và cả những mối liên hệ tưởng như không tồn tại, phi tự nhiên là thế giới vô hình, siêu vô hình nữa. Thế nhưng có một yếu tố chung mà cả loài người đều phải khẳng định, thừa nhận để minh chứng cho luận thuyết đó, và nó cũng là thành tố không thể thiếu được trong cấu trúc cuộc sống trong cuộc đời mỗi con người, ấy là định tố Mẹ, là hiện thân của tri thức sinh dưỡng, mang nặng đẻ đau, nuôi nấng, nâng niu ngay từ lúc bản ngã con người vừa sơ khai khẳng định - khi Ta – bản ngã vừa cất tiếng khóc chào đời đầu tiên.
Trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam – tâm thức tiêu biểu cho cư dân vùng văn minh lúa nước với đặc trưng của văn hóa làng xã thuần nông, thì yếu tố Mẹ (cái ) là yếu tố văn hóa hàng đầu, nó bao hàm và chi phối hầu như toàn bộ các mối quan hệ trong cuộc đời mỗi người, yếu tố này còn biểu hiện rõ ràng và in đậm dấu ấn cho tới tận ngày nay trong dân gian, làm nên khái niệm văn hóa phồn thực, qua các tục lệ thờ cúng, tế lễ, hội hè (như tục thờ Mẫu – đạo Mẫu, hay hội Linh Tình Phộc), không những thế, yếu tố Mẹ còn quyết định tới cả cấu trúc của ngôn ngữ trong thói quen giao tiếp hàng ngày, như một đơn vị từ có khả năng kết hợp cao (mệnh đề Cái + danh từ chung = tổ hợp từ mới; ví dụ như những từ chỉ vật dụng thường ngày, bàn, ghế, cây (danh từ chung) nhưng khi kết hợp cái bàn, cái ghế, cái cây thì được ngầm hiểu như một mặc định đó là yếu tố mang tính chất riêng, cụ thể hơn, có sức sống hơn).
Bài thơ Chén dâng lên mẹ của tác giả Trương Công Tường được nhà thơ TẠ THU HÀ - biên tập viên Nhà xuất bản Lao Động tuyển chọn và giới thiệu trong tuyển tập thơ (CÒN MÃI VỚI THỜI GIAN - khổ 17cm x 24cm, dày 652 trang, giá bán 265 nghìn đồng - TẠ THU HÀ chủ biên - NXB LAO ĐỘNG 11/ 2010, nhân dịp kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Nhà xuất bản Lao Động 1/11/1945-1/11/ 2010). Với luồng cảm thức về Mẹ khá đậm đà, chi phối hầu như toàn bộ tư duy và cảm hứng sáng tạo, sự ám ảnh văn chương đó đã vượt ngưỡng trở thành tâm thức thi ca của Trương Công Tường:
“Con viết cho mẹ bài văn
Mới nghe tưởng mẹ bảo làm văn chương”
Sự ám ảnh xuất hiện ngay sau hai câu thơ mào đầu, đã có tác dụng như mũi kim ngọt, sắc đâm xuyên thấu lớp da mỏng manh, dễ rách, vỡ của tâm hồn nhạy cảm và tinh tế thường trực trong con người cầm bút “làm văn” những buổi đầu. Trong ngữ cảnh này ý thơ lãng đãng như không, như thực, và câu thơ tưởng như muốn thuật lại nguyên si ý nguyện của mẹ và sự ngộ nhận của người đang dợm chân bước vào con đường văn chương đầy khắc nghiệt của chốn “trường văn trận bút”. Nhưng hình như ẩn đằng sau nó là cả một chuỗi chuỗi những tâm tư, lo lắng, sự căng thẳng trong tâm trí người mẹ vì lo lắng trước dự báo tương lai của con sau này: “Con viết cho mẹ bài văn”. Bài văn của mẹ yêu cầu ở đây, phải chăng chỉ là một thử thách của mẹ khi muốn con mình “làm văn chương”:
Ngoài vườn gió động cành sương
Hiểu ra lời mẹ mắt vương lệ nhòa.
Hai câu thơ tiếp sau, đã mơ hồ trả lời được chút nào khúc mắc trong lời đề nghị của mẹ, nhưng không phải ngay thời điểm bấy giờ mà tác giả của chúng ta đã ngộ ra điều ấy. Bằng sức nặng của nghệ thuật sử dụng ngôn từ và thủ pháp rũ rối không gian đẫm tính ước lệ “vườn gió, cành sương” và thời gian (hiểu ra), tác giả đã giúp người đọc cảm nhận được trọn vẹn cái tứ sâu xa ẩn sau lời yêu cầu “viết bài văn” tưởng như giản đơn kia của mẹ, đâu chỉ là đơn thuần hay thuần túy văn chương, mà trong nội dung chữ “Văn” đó, còn là những gập gềnh, khúc khuỷu, gian truân gói trọn một cuộc đời “làm Người”.
Khi xem xét kỹ văn bản khổ thơ mở đầu, chúng ta đều nhận thấy cảm thức Mẹ đã dần định hình, theo cấp độ cao dần trong tư duy người con, tuy nhận thức còn thuần túy lý tính, biểu hiện qua mối quan hệ giữa hai nhân vật; “Mới nghe tưởng mẹ bảo làm văn chương”. Vô hình chung, hình tượng Mẹ và Con đã trở thành những điển hình tiêu biểu cho hai thế hệ, hai luồng tư tưởng, cùng hướng về một quan điểm chung “Văn và Đời”. Điểm nhấn cao nhất trong khổ thơ này nằm ở nghệ thuật phân lớp, phân cảnh và dàn dựng nhân vật thơ trên văn bản. Bằng lối “cảm” độc đáo, Trương Công Tường đã để nhân vật Con tự bộc lộ tận cùng tâm trạng, biến cả khổ thơ đầu tiên ấy thành kho thông tin, chứa đựng đầy yếu tố bất ngờ, để rồi đưa hai trạng thái nhân vật tiếp cận đến tận chân cuộc đời “kẻ làm văn”, như một định kiến giữa đời thường, chật vật, gian nan, thiệt thòi, hội tụ đủ các cung bậc cảm xúc cay đắng xa xót.
Tiếp theo mạch tư duy của khổ thơ thứ nhất, cảm thức Mẹ xuất hiện với đầy đủ yếu tố văn hóa cấu thành, là những tia sáng ánh xạ lại từ nhân vật Mẹ rất sống động, qua cảm nhận của nhân vật Con.
Mẹ ơi tám chục năm qua
Nửa đời chiếu rách, cháo hoa nửa đời...
Phận nghèo nước mắt đè nên phận nghèo...
Vật vờ lòng đất cha ơi
Một ngày bằng cả cuộc đời bỏ đi”...
Song song cùng sự hoàn thiện cảm thức Mẹ, tâm thức Mẹ cũng dần định hình theo từng dòng cảm thức của Con về Mẹ, chính sự hi sinh cả cuộc đời cho chồng, cho con, và ý thức vượt lên trên hoàn cảnh sống khắc nghiệt của mẹ, đã truyền sang con dòng tri thức sống vượt qua định mệnh, can trường chấp nhận mọi hoàn cảnh cho lý tưởng sống của mình:
“Chiếu không đắp đủ chân người
Bàn tay úp mặt ngủ ngồi ngủ nghiêng...”
Trải qua những hoàn cảnh tận cùng khó khăn, nhân vật Con càng thấm thía mỗi khi nhớ lại lời yêu cầu “viết bài văn” cho mẹ, thuở mình còn thơ trẻ. Và bản chất thực trong chữ “Văn” của mẹ càng tăng sức nặng theo thời gian, từ cách tính ước lệ bằng hàng chục năm, rồi bằng cả cuộc đời của một con người mà mới chỉ có thể cảm nhận được phần nào. Trong khổ thơ này nguyên lý chồng chất sự kiện (phận nghèo) và thủ pháp so sánh tương đối (một ngày, cả cuộc đời), được tác giả sử dụng thật đắc địa, nhuần nhuyễn đã tạo hiệu ứng cho xúc cảm nghệ thuật thăng hoa “Phận nghèo nước mắt đè lên phận nghèo...// Một ngày bằng cả cuộc đời bỏ đi...”.
Khi tách riêng khổ thơ thứ hai, và xem xét nó như một chỉnh thể nghệ thuật phái sinh, ta rất dễ lầm với hoàn cảnh thực của tác giả Trương Công Tường khi ấy, thời điểm cảm hứng bài thơ này tìm đến với ông. Ấy là khi ông đang miệt mài đi theo bước chân những người địa chất lùng tìm từng vỉa quặng trong lòng rừng sâu. Chính những chi tiết thơ kiến tạo lên hình ảnh thơ có sức sống kì lạ, khi làm nhiệm vụ phản ánh, tái tạo lại cái nghèo, cái thiếu thốn của nhân vật Mẹ và cũng tràn đầy tâm trạng; chiếu đắp không đủ chân, bàn tay úp mặt, rồi các tư thế ngủ, ngủ ngồi, ngủ nghiêng, vật vờ lòng đất, đã trở thành những biểu tượng tiêu biểu đầy tính văn học và rất sống, rất sinh động ấy lại được xuất phát từ những cảm xúc rất thực tế mỗi khi ông đi công trình. Còn khó khăn khi ấy thì có lẽ chỉ người bạn đời đầu gối tay kề của ông sau mỗi chuyến công tác, ông trở về nghỉ ngơi ở bên, dù thời gian hết sức ngắn ngủi để chuẩn bị cho những chuyến đi lần sau mới có thể sẻ chia được. Và cũng chỉ có người vợ thủy chung tần tảo ấy, người đã được thừa hưởng những đức tính của Mẹ (từ hữu thức và vô thức), mới có thể động viên ông tiếp tục vững bước trên đường trường đi theo lý tưởng của mình, sau mỗi bế tắc trong công việc, cuộc sống. Ấy là khi ông thốt lên những câu thơ mang đầy tính dự báo số phận cho nhân vật thơ :
“Vật vờ lòng đất cha ơi
Một ngày bằng cả cuộc đời bỏ đi .
Lối ví von đầy ngẫu tượng mà bất ngờ, tưởng chừng đã làm tan loãng đi cảm thức Mẹ đang định hình cận điểm, rõ nét trong tác phẩm, thậm chí “nó” chẳng ăn nhập gì với mạch thơ đang dào dạt tâm trạng hoài niệm, khi xen hình tượng người Cha xuất hiện giữa mạch chảy cảm thức. Đó phải chăng chính là khoảng lặng cần thiết để dòng tâm thức Mẹ tiếp tục biến chuyển thêm một nấc cao mới trong tư duy Con. Điểm nhấn nghệ thuật ở đây, được đẩy thêm lên một nấc cao mới, lời than thở của con khi cảm thấy mình bất lực trước cuộc sống, phải cất lên tiếng gọi cha ơi ngầm khẳng định sáng tỏ thêm cho tâm thức Mẹ trong lời đề nghị “viết cho mẹ bài văn” đã đề cập trong câu thơ mào đầu thêm tính nhất quán cao. Với thủ pháp sử dụng triệt để lối tư duy ngắt quãng, tâm thức Mẹ ở đoạn thơ thứ hai được Trương Công Tường xây dựng đã đạt tới vẻ đẹp của một biểu tượng văn học điển hình, thông qua đức tính hi sinh, tần tảo chung của người phụ nữ, và nỗi đau giữa dòng đời của những người phụ nữ Việt Nam trước cách mạng, vì mưu sinh mà người chồng trụ cột gia đình bắt buộc phải quên thân mình (Lấy thân đổi mấy đồng xu/ Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng – Tố Hữu) mà lao vào chốn hiểm nguy “Một ngày bằng cả cuộc đời bỏ đi” của nghề phu mỏ. Từ tập hợp logic các sự kiện đã toát nên chân lý mọi nỗi đau đều dồn lên đôi vai người phụ nữ mà tâm thức Mẹ càng thêm ngời sáng.
Văn chương giữa chốn chợ đời, cũng tựa như viên trân châu đem trộn lẫn với đám mắt cá, mấy ai đã sành sỏi nhận ra. Ở giữa hoàn cảnh khó khăn đến bội phần, ngay cả miếng ăn còn phải dè sẻn, thì kẻ làm văn làm sao sống nổi. Vậy mà khi hoài thai tác phẩm này vào giữa những năm đất nước còn muôn vàn khó khăn (năm 1986) bài thơ vẫn ra đời và gặt hái những thành công. Có lẽ thành công nhất ấy chính là nó đã tìm được bà đỡ mát tay, trên những trang tạp chí, nhờ vậy mà tác giả Trương Công Tường đã có một cái cớ thật đáng yêu để nịnh vợ mình, người đã hết lòng chăm sóc cho chồng, cho con trong những ngày cả nước cùng khó khăn, thiếu đói, ấy là dành những đồng nhuận bút để mua quà tặng con và áo rét tặng vợ, xét hành động này theo góc độ phân tâm học đó cũng chính là biểu hiện của dòng cảm thức Mẹ đã luôn tồn tại trong mọi nếp nghĩ và quy định nên cách hành xử đầy nhân bản ấy trong nhà thơ? Từ những tình cảm chân thành ấy, tác giả đã nhìn nhận cuộc đời có phần tươi sáng hơn, lạc quan hơn. Trong khổ thơ kết đã lấp lánh niềm vui khi đã hiểu gần trọn vẹn được chữ “văn” trong lời mẹ:
Lớn lên lời mẹ con ghi
Sữa từ rau cháo lọc vì chúng con
Con không bị những roi đòn
Nước non che chở cho con nên người
Hạnh phúc của nhân vật con là khi đã hội tụ đủ tư duy và bản lĩnh giữa đời để hiểu ra ý tứ sâu sa của mẹ, thì nỗi niềm thương nhớ lại dâng trào bởi mẹ không còn trên đời này nữa. Chỉ cảm thức Mẹ trong con là luôn tồn tại, là mãi mãi, câu thơ bất chợt trở lên chát đắng, nghẹn ngào, tâm thức Mẹ một lần nữa lại được tác giả trừu tượng hóa bằng biểu tượng chén tri ân, đẫm tính khái quát, ước lệ. Không phải là chén đựng rượu lạt đời thường, mà là chén dâng và chất liệu không phải là rượu đời thường vẫn dùng để rót vào chén cúng tế, mà là những lời thơ chắt lọc từ cuộc đời, hay cụ thể hơn là từ chữ “văn” trong đời con đã trải qua và đã thấm nhuần cặn kẽ. Ở khổ thơ kết này, cảm thức Mẹ đã được hình thành trọn vẹn, hoàn thành thiên chức nghệ thuật trong công tác xây dựng nhân vật, mạch thơ khổ kết đã thực hiện tiếp sứ mệnh chuyển hóa sang dòng tâm thức Mẹ, thổi hồn cho nhân vật và đưa tác phẩm về với đời sống thực, đời sống của những mối quan hệ tâm linh:
Mẹ vui trăm tuổi mẹ ơi
Chén dâng lên mẹ rót lời thơ con.
Đọc trọn vẹn bài thơ chén dâng lên mẹ với hai mảng cảm thức Mẹ và tâm thức Mẹ là nguồn cảm hứng chủ đạo cấu thành nên hồn cốt, diện mạo bài thơ, người đọc dễ dàng nhận thấy ở đó hội tụ đầy đủ những tinh hoa của một đời người, một đời thơ đã từng trải qua mọi biến cố của cuộc sống, qua những ý thơ ăm ắp triết lý nghiệm sinh và triết luận nhân sinh. Bỏ qua mặt hạn chế xúc cảm truyền tải từ người viết đến người đọc, là điểm yếu riêng của thể thơ lục bát truyền thống bởi quy tắc gieo vần, theo luật ép buộc, thì bài thơ Chén dâng lên mẹ vẫn là bài thơ viết về chân dung cuộc đời người mẹ rất hay và có sức lay động lòng người của tác giả Trương Công Tường.
Chính sự bứt phá, mạnh bạo và triệt để trong phương pháp đổi mới hình thức tiếp cận văn bản cho đối tượng cảm thụ, đã đem lại cho tác phẩm những thành công nhất định (với riêng tác giả và tác phẩm Huyền thoại dấu chân mẹ), qua luồng tư duy hướng biển đậm dấu ấn của triết lý phát triển văn minh Đông Phương trải qua hàng ngàn năm, tạo thành thành tố thiết yếu của riêng tác phẩm. Luồng tư duy hướng biển trong Huyền thoại dấu chân mẹ, xét theo khái niệm văn bản học, nó chính là chuỗi mã hóa được giải theo một chiều cảm thức, là khóa mã cần giải để độc giả có thể cảm nhận được đầy đủ về chiều sâu triết lý tàng ẩn trong nó, đồng thời bản thân "nó" lại chính là quá trình xây dựng và phát triển cảm xúc sáng tạo theo hướng trục ngang (hoành độ), với những dao động đan xen các xúc cảm tinh tế xuất hiện từ nguồn nội cảm của chủ thể sáng tạo - tác giả tập thơ.
Mã giải đầu tiên của chuỗi mật mã nguồn được tác giả (hữu thức hoặc vô thức) "cài" ngay trong nội dung trang bìa 1 và 4 của tập thơ, với thuộc tính đóng mở hài hòa cho không gian thơ bên trong. Nếu coi toàn bộ tác phẩm là một chỉnh thể thống nhất, thì phần mở của bố cục được thể hiện qua bức ảnh phong cảnh "Huyền thoại dấu chân mẹ" với điểm nhấn quan trọng nhất - toàn cảnh "dấu chân" trong bức tranh, hơn nữa khi chịu cắt ngang miền tư duy, người đọc cũng dễ dàng cảm nhận thấy ngay phần đầu tiên mở ra trong không gian trong của mảng bố cục nội dung cuốn sách (phần 1) cũng là một "Huyền thoại dấu chân mẹ", nhưng là bức tranh bằng thơ rất sâu sắc, sinh động. Nếu lấy bức ảnh Huyền thoại dấu chân mẹ làm tiền đề, làm điểm mở khởi nguyên cho quá trình triển khai công việc giải mã văn bản thơ, ta có thể tìm thấy dấu ấn đầu tiên khá ấn tượng và lý thú của đề tài và bố cục của bức tranh phong cảnh đề cập.
Ở đây, mang tính tiêu biểu và cũng là hồn cốt của nghệ thuật xây dựng bức tranh bố cục là ý tưởng bức tranh. Chiếm hầu hết không gian ảnh là không gian văn hóa, sinh thái vùng cao, miền núi, với các dãy núi điệp trùng ẩn hiện song song chạy dài suốt phần trên bức ảnh, như bức tường thành, tạo cảm giác vững trãi mà quân bình, giàu tính bổ trợ âm dương và rất đầm ấm, toát lên khát vọng quần tụ qua biểu tượng các cặp, đôi trong tự nhiên đời sống sinh học. Những mỏm núi nhô cao, mềm mại được màu xanh mượt của cỏ cây che phủ, làm điểm tựa cho những dải gam màu nâu đỏ mềm mượt vấn vít, uốn lượn của lối đi, cây và núi, mảng màu xanh và mảng màu nâu đỏ là hai khối bổ trợ, tương tác nhau, dính với nhau thành một tổ hợp vững chắc. Điểm nhấn quan trọng nhất và cũng là tiêu đề của bức tranh phong cảnh là Bàn Chân Mẹ, được tách bạch rời khỏi khối núi và cây lá, hình ảnh của những thửa ruộng bậc thang tràn trề nước ải, hình thành nên "Dấu chân mẹ"/ yếu tố văn hóa/ ngoài tính đặc sắc của một thắng cảnh tự nhiên tạo tác, còn phản ánh một chiều sâu tư duy hướng núi, hướng biển của nền văn minh sông Hoàng Hà, Dương Tử của tổ tiên chúng ta trước kia từng vượt núi hướng tới biển Phương Nam, làm nên huyền thoại họ Hồng Bàng, và người có công hình thành nên Văn Lang, Âu Lạc chính là mẹ Âu Cơ, thủy tổ của người Việt luôn tồn tại cùng tục thờ Mẫu cho đến ngày nay.
Bố cục của bức tranh phong cảnh được kết cấu đã hiển hiện rõ nét với ba điểm chính, núi, cây, ruộng nước. Trong bối cảnh này, dấu chân mẹ chính là dấu ấn của một nền văn minh nông nghiệp với bề dày phát triển của nền văn hóa lúa nước khoảng 3500 năm song hành tồn tại cùng tư duy phồn thực Âu Việt.
Bức tranh bố cục bìa 1/ ảnh bìa 1/ làm nhiệm vụ mở ra những trường không gian nằm ngoài văn bản, không chịu sự chi phối của ngôn ngữ, thì bức ảnh ở bìa 4 với tiêu đề Bến đợi lại làm nhiệm vụ đóng lại những trường không gian đó. Tuy nhiên ngoài bối cảnh và nhiệm vụ đóng lại các trường không gian, bức tranh Bến đợi lại làm thêm một nhiệm vụ mở ra những trường thời gian mới trong cảm thức nghệ thuật của người chiêm nghiệm. Chính những trường thời gian mở này là dung môi hòa trộn và dẫn dắt người đọc trở lại từng phần văn bản, để tìm tòi, đối chiếu và suy ngẫm bằng những hình ảnh thơ, bằng ngôn nghĩa thực và những khái niệm thực của câu từ, cú pháp trong mỗi văn cảnh, văn phạm. Bản thân nó chính là mã giải thứ hai để giải mã văn bản.
Bức tranh bố cục/ ảnh phong cảnh/ Bến đợi, lấy đề tài và cảm hứng nghệ thuật từ một dòng sông rộng mở, có chiều cảm thức của nghệ thuật trình diễn, sắp đặt (Perfomence). Với ba điểm nhấn chính là cặp thuyền đậu trên bến, và một chiếc thấp thoáng phía xa. Sự sáng tạo đến táo bạo trong nội dung đã phá vỡ sự cân xứng về hình khối của bố cục nội tại bức ảnh (thuyền mẹ, thuyền con) và phép cận cảnh, viễn cảnh, đưa bức ảnh đạt tới tính ước lệ cao. Bến thuyền nơi hai "mẹ con" thuyền đang neo đậu là chiếc lưới tre mỏng mảnh chạy chéo từ rìa giữa bức ảnh tới sát mặt nước nơi thuyền đậu, như một vật cản, một mối đe dọa vô hình, và cũng là nguyên nhân trực tiếp gây ra cảnh chia ly. Hình tượng con sào đang ngả ra để níu giữ chiếc thuyền mẹ, còn in dấu đám mây trời lơ lửng phiêu du và trên bức ảnh, phía thượng nguồn dòng sông, lấp sau tán cành lá, thấp thoáng bóng một con thuyền "bố", đã đưa người thưởng ngoạn đến tận cùng của cảm giác chông chênh day dứt chờ đợi cuộc chia ly, hội ngộ.
Hai phần ba diện tích bức tranh là hình ảnh dòng sông chảy suốt từ trên xuống góc dưới bức ảnh (theo trục dọc /đồ họa/ từ bắc tới nam ) với màu xanh của nền trời phản chiếu, màu xanh của cây lá trong bức tranh này chỉ mang tính chất điểm xuyết, như những gia vị cần có để làm nổi bật cho tư tưởng nghệ thuật chính khẳng định; dòng sông trí tuệ, tri thức là khởi nguồn của biển cả và trường khái niệm đại dương là cái nôi của sự sống, là kết thúc của một tuyến không gian, (truyền thuyết "Đẻ đất, Đẻ nước" của người Mường (và người Việt cổ) thì bầu trời là chiếc chảo úp xuống và mặt biển chính là nơi tiếp giáp giữa bầu trời và mặt đất). Chính hành trình vượt núi về biển, là quá trình khai phá cuộc sống và tạo ra hình thái văn hóa xã hội mang tính đặc trưng riêng rẽ - vừa là khái niệm, vừa là chủ thể phát triển tư duy Phương Đông.
Khái niệm này đằm sâu trong bố cục của các bức tranh 1 và 4, khi ta phức hợp nguồn ý tưởng cùng các tầng nghĩa trong và ngoài nội dung văn bản, bằng lối tư duy nghiệm sinh, sẽ xuất hiện nhiều điều lý thú, nằm ngoài mục đích đóng mở không gian cho nội dung văn bản, (không gian nghệ thuật và phi nghệ thuật). Đó chính là không gian phát triển tư duy hướng biển theo trục dọc từng phân mảng.
Trong phân mảng 1 (phần 1) tiêu biểu qua bài Huyền thoại dấu chân mẹ, đã xây dựng hình tượng người mẹ Việt Nam đậm sắc màu sử thi, song hành tồn tại cùng mạch chảy thời gian, và trường không gian được tích hợp và phát triển theo một hành trình từ thần thoại đến thực tế, từ hư ảo đến cụ thể (thuở hồng hoang, câu chuyện thần kì, bao ngàn đời, mẹ vẫn hiên ngang) từ đó làm tiền đề cho sự hóa thân trọn vẹn vào cõi bất tử của hình tượng người mẹ (cá thể) - Mẹ Việt Nam (tập thể).
Biểu tượng thơ Người mẹ Việt Nam trong Huyền thoại dấu chân mẹ, ngoài yếu tố sử thi, còn lưu giữ khá nhiều nét văn hóa độc đáo của hành trình văn hóa Việt, những đức tính tần tảo, kiên cường, giàu đức hi sinh, mãi mãi là điểm tựa cho các con vững vàng bước đi trong cuộc sống trên suốt hành trình đi tìm sự sống và sự tồn tại của cá thể Người, hay lối tư duy của nền văn hóa phồn thực:
...Xuống đi váy em căng chàng
Dừa của chàng đấy, xin đừng quá tham...
Hái dừa
Đôi khi biểu tượng đó là hóa thân của những biểu tượng người vợ, người em gái, người bạn tình:
Em là mãi mãi mùa xuân
Cũng là vợ - là bạn - là mẹ - là người tình của anh
Em muốn...
Sự bất tử đó của biểu tượng Mẹ cũng đồng thời là ý tưởng nghệ thuật thẩm sâu vào tứ thơ Huyền thoại dấu chân mẹ, tương tác cùng các bài thơ như Đời tôi, Mẹ tôi, Lại về Vùng Mỏ cho ý đồ nghệ thuật chung toàn tập, ngợi ca Mẹ - Mẹ Đất - Mẹ Nước - Mẹ Âu Cơ - Mẹ Việt Nam trong mạch chảy ngàn năm của tư duy hướng núi, hướng biển.
Ở phần 2 - tiêu đề Tự Sự, mang âm hưởng của một khúc tráng ca đầy bi hùng, viết về số mệnh của một thân phận - một cuộc đời Người và làm Người, có điểm nhấn riêng rẽ là tư tưởng hướng tới sự toàn diện, viên mãn của phần tâm linh, hướng nhân sinh và hướng thiện. Mảng tư duy này có kết cấu tròn trịa của nguồn nội cảm, phát huy được tối đa ưu thế của lối văn trần thuật, kể, tả tạo ấn tượng chân thực trong nghệ thuật chuyền tải ý đồ nghệ thuật chính mà không tan loãng hay lu mờ mạch tư duy của tác phẩm. Vẫn lối tư duy hướng núi và hướng biển độc đáo, sự phát triển cá tính của nhân vật thơ, chủ thể trữ tình trong vai trò người kể chuyện, trong phân mảng này luôn song hành tồn tại/ và bám sát/ cùng quá trình vận động văn hóa của dòng chảy văn minh đương thời, mỗi phân đoạn, phân cảnh nhỏ đều có quá trình phát triển tương ứng và sự tham gia gián tiếp giữa không gian và thời gian vận động của sự kiện. Hành trình nghệ thuật chính xuyên suốt phân mảng là quá trình hoàn thiện tư duy cá thể và vươn tới sự trở về viên mãn của cá thể trong vũ trụ - sự trở về nguyên bản của tâm hồn Người, mà đích đến là trở về trong Mẹ, trở về lòng Đất Mẹ - Cội nguồn.
Phần 3 cũng là phần khép /đóng/ lại của văn bản, của các trường nghĩa trong văn bản, là phần của âm thanh và ngôn ngữ, ở đây, trong tập hợp của các bản nhạc, từng giai điệu đan xen hòa âm cùng ngôn nghĩa thơ, chắp thêm đôi cánh nghệ thuật cho những bài thơ, những bức tranh thêm góc độ và hướng cảm nhận mới, không gian nghệ thuật vì thế được trải rộng thêm ra, mênh mang từ không gian nội tại những bức ảnh đến mỗi bài thơ, cũng là quá trình phát triển từ màu sắc - âm điệu - ngôn ngữ theo quy luật phát triển tương ứng của triết lý tam nguyên về vũ trụ Thiên - Địa - Nhân trong triết thuyết Nho gia, mà ở đó con người đóng vai trò là yếu tố trung gian /dung môi/ cho mọi giao tiếp tồn tạitrong đại vũ trụ.
Đọc và thưởng lãm toàn bộ tác phẩm nghệ thuật độc đáo Huyền thoại dấu chân mẹ của tác giả Nguyễn Hữu Trọng, và thử đi sâu vào tìm hiểu những phần còn nằm trong và ngoài nội dung văn bản, người đọc sẽ còn tìm được nhiều cách tiếp cận khác nhau theo nhiều góc độ tiếp cận và phương pháp tiếp cận khác nhau. Nhưng chắc chắn bạn đọc cũng như tôi, sẽ tìm được rất nhiều mã giải văn hóa còn tàng ẩn trong tuyển tập thơ - ca Huyền thoại dấu chân mẹ mà bài viết nhỏ này chỉ tham vọng đưa tới các bạn yêu thích thơ Nguyễn Hữu Trọng một góc độ và một hướng tiếp cận, thụ cảm mới, như một âm vọng phản hồi có khởi thủy từ nguồn xúc cảm sáng tạo của tác giả gửi gắm qua những bức ảnh, những bài thơ và những bản nhạc có trong tuyển tập thơ ca này.
Thời gian sẽ là kẻ thẩm định chính xác nhất cho giá trị nghệ thuật có trong mỗi tác phẩm nghệ thuật. Với lối tư duy hướng biển và triết lý sáng tạo mang đậm dấu ấn Đông Phương của tác giả Nguyễn Hữu Trọng thể hiện qua bố cục tập thơ Huyền thoại dấu chân mẹ cũng là thành công nhất định và rất đáng trân trọng trong cuộc đời người nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật.
Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Nghệ thuật Việt hoạt động trên lĩnh vực Văn học Nghệ thuật, do nhóm các nghệ sĩ, nhà thơ, nhà văn tâm huyết với Nghệ thuật tổ chức ra, nhằm mục đích:
1-Sáng tạo nghệ thuật là gốc, công bố, phát hành tác phẩm là ngọn, trong qui trình sáng tạo và đưa tác phẩm đến với công chúng.
Công việc sáng tạo nghệ thuật đòi hỏi tài năng nghệ thuật trong quá trình sáng tác, và cũng cần đòi hỏi một yêu cầu tất yếu là điều kiện để đưa tác phẩm đến với công chúng, trở thành tài sản chung của xã hội. Không ít các tác giả, do không có điều kiện phát hành, in ấn, quảng bá tác phẩm, nên tài năng không được kích thích, thui chột tài năng và động lực sáng tạo, không có cơ hội gia nhập cộng đồng văn nghệ sỹ để học hỏi và giao lưu trong đời sống sáng tạo. Đây là thiệt thòi lớn.QUỸ HỖ TRỢ SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT VIỆT-với mục đích là cầu nối, là cái nôi nâng đỡ tài năng, phát hiện tài năng và tác phẩm, hỗ trợ công việc sáng tạo và công bố tác phẩm, đưa đến một cơ hội hợp lý để các tác giả phát huy tốt nhất phẩm chất của mình trong một cộng đồng nghệ sỹ đích thực.
2-Hiện nay việc xã hội hóa công tác sáng tác nghệ thuật và nâng đỡ tài năng nghệ thuật còn hạn chế, QUỸ HỖ TRỢ SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT VIỆT hỗ trợ tác giả, tác phẩm, thực hiện chức năng xã hội hóa tác phẩm nghệ thuật bằng các hình thức hợp lý để đem đến quyền và lợi ích cho các tác giả và công chúng.
Với mục đích ấy, nhóm các nghệ sỹ tâm huyết lập Quĩ, để mở ra một hướng đi phù hợp với điều kiện xã hội hiện tại, để các nghệ sỹ có thể phát huy tốt nhất tài năng và khả năng cống hiến, giúp tác phẩm đến với xã hội nhanh nhất, xứng đáng với giá trị đích thực.
3-Quĩ thực hiện hỗ trợ các tài năng sáng tạo các loại hình nghệ thuật-văn hóa, thực hiện bảo hộ bản quyền tác giả, bảo vệ sở hữu tác phẩm; hỗ trợ vật chất, tinh thần trong việc nghiên cứu, sáng tác, in ấn, công bố, thương mại tác phẩm; hỗ trợ các tài năng trẻ, các nghệ sỹ nghèo, khó khăn đặc biệt.
4-Quĩ hoạt động từ thiện văn hóa, làm từ thiện cộng đồng chung và với các văn nghệ sỹ; đặc biệt là các văn nghệ sỹ tài năng, có đóng góp cho xã hội.
II-NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN
1-Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Nghệ thuật Việt có những nhiệm vụ chính sau đây:
- Khai thác mọi khả năng trong và ngoài nước để tạo nguồn tài chính Quỹ, đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ của Quỹ.
- Hỗ trợ các tổ chức, cá nhân trong việc sáng tạo Nghệ thuật phục vụ đời sống tinh thần nhằm mang lại hiệu quả văn hóa cho xã hội.
- Quản lý và phát triển các hoạt động của Quỹ theo đúng pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Quỹ.
-Phát hành, công bố, quảng bá tác phẩm, tác giả; tư vấn, môi giới bảo vệ bản quyền tác phẩm và sở hữu trí tuệ.
-Liên kết và giao lưu văn hóa, xuất bản và xuất khẩu văn hóa nghệ thuật Việt.
-Làm các công tác từ thiện văn hóa, cộng đồng.
2- Quyền hạn:
- Tiếp xúc, vận động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ vật chất, tinh thần cho các hoạt động của Quỹ.
-Yêu cầu các tổ chức, cá nhân nghệ sĩ có nhu cầu hỗ trợ của Quỹ cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến tác phẩm.
- Đại diện cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trong việc bảo hộ bản quyền cho các tác phẩm Nghệ thuật Truyền thống theo quy định của pháp luật;
- Tổng kết, đúc rút tinh hoa Nghệ thuật từ thực tiễn đời sống văn học, nghệ thuật, giúp các thành viên của quỹ tự trau dồi kiến thức và kinh nghiệm sáng tạo tác phẩm.
- Được quyền huy động mạng lưới cộng tác viên để tạo nguồn tài chính cho Quỹ và hỗ trợ các đối tượng sáng tạo;
-Thông tin về các hoạt động sáng tạo ở trong và ngoài nước;
- Xin giấy phép in ấn, phát hành tác phẩm văn học nghệ thuật phù hợp với mục đích của Quỹ.
3-Là tổ chức phi chính phủ, có đăng ký tư cách pháp nhân theo pháp luật, hoạt động tuân theo pháp luật Việt Nam. Quỹ hoạt động trênphạm vi cả nước, có các chi nhánh đặt tại một số nơi trong và ngoài nước, có con dấu riêng, có tài khoản nội tệ và ngoại tệ tại các ngân hàng.
III- TÀI CHÍNH CỦA QUỸ
1-Nguồn tài chính của Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Nghệ thuật Việt có được:
- Từ sự ủng hộ, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
- Từ việc giới thiệu quảng bá các tác phẩm Nghệ thuật do Quỹ tham gia và các dịch vụ do Quỹ mang lại.
2-Tài sản và tài chính của Quỹ được quản lý theo chế độ kế toán thống kê của Nhà nước.
3- Ban Quản trị Quỹ thực hiện công tác kinh phí tài chính trong các nội dung sau:
1/ Chi kinh phí hỗ trợ hàng năm với các đối tượng theo quy định của Điều lệ này;
2/ Chi mua sắm phương tiện làm việc, đi lại, lương, công tác phí, chế độ cộng tác viên, tiếp khách và hội nghị có liên quan trên cơ sở dự trù trước và được Hội đồng sáng lập Quỹ thống nhất xét duyệt;
3/ Chi các khoản khác theo quy định hướng dẫn của chế độ tài chính hiện hành;
4/ Chi cho công tác vận động tài trợ cho Quỹ.
5/ Chi các công tác từ thiện khác.
IV-PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ
1- Đối tượng hỗ trợ của Quỹ
- Những người lao động, công nhân, nông dân, trí thức, có tài năng sáng tạo tác phẩm Nghệ thuật Truyền thống gặp hoàn cảnh khó khăn đặc biệt;
-Những tài năng sáng tạo Nghệ thuật là thanh thiếu nhi.
-Những nghệ sĩ nghèo có tác phẩm đạt chất lượng xuất bản.
-Đối tượng văn nghệ sỹ, chính sách, người có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt cần giúp đỡ từ thiện.
-Các công trình nghiên cứu văn hóa nghệ thuật dân gian, nghệ thuật phi vật thể.
2-Quy trình xét duyệt hỗ trợ:
a. Tiếp nhận đề nghị của các tổ chức, cá nhân gửi đến, phát hiện những tác giả phù hợp, tác phẩmmới có giá trị Nghệ thuật.
b. Hội đồng thẩm định nhận xét và đánh chất lượng nghệ thuật của các tác phẩm.
c. Trên cơ sở thẩm định, Quỹ sẽ ra quyết định về phương thức và hình thức hỗ trợ.
d. Thông báo cho đối tác liên quan để ký kết hợp đồng hỗ trợ và các văn bản tài chính. Chuyển giao tài chính.
e. Thực hiện các điều khoản thỏa thuận liên quan.
3- Hình thức hỗ trợ:
a) Hỗ trợ về tài chính.
b) Hỗ trợ về phát hành ấn phẩm.
c) Hỗ trợ về thông tin.
d) Hỗ trợ tuyên truyền, phổ biến, quảng cáo cho tác phẩm.
f) Hỗ trợ về phương pháp luận sáng tác; phê bình, thẩm định đánh giá nghệ thuật.
g) Giúp đỡ tác giả hoàn thiện tác phẩm.
h) Hỗ trợ việc đưa các tác phẩm Nghệ thuật tham gia các cuộc thi trong nước và quốc tế.
4-Phương thức hỗ trợ:
a) Hỗ trợ không hoàn lại hoặc hoàn lại một phần được áp dụng đối với các tác phẩm đạt chất lượng cao trong nghệ thuật, góp phần nâng cao dân trí và nâng cao đời sống dân sinh.
b) Triển khai phát hành giúp người nghệ sĩ thu lại một phần tiền vốn ban đầu đã bỏ ra cho công tác hoàn thiện tác phẩm;
c) Quảng bá thông tin tuyên truyền về tác phẩm vừa ra đời trên hệ thống thông tin,tạp chí chuyên đề của quỹ.
d/ Môi giới công tác in ấn, viết các đề tài lịch sử, truyền thống theo yêu cầu; thực hiện môi giới và có thể hỗ trợ các dịch vụ quảng cáo tác phẩm; tổ chức hội thảo về văn học, nghệ thuật và văn hóa.
V-CƠ CẤU VÀ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG
1-Ban Quản trị Quỹ.
-Ban Quản trị Qũy gồm những thành viên Sáng lập Quỹ, có quyền cao nhất quyết định mọi hoạt động của Quỹ, tổ chức xây dựng và hoạt động, hay xoa bỏ Qũy.
-Ban Quản trị Quỹ thành lập, bổ nhiệm nhân sự, tổ chức ra Ban Quản lý Quỹ và Hội đồng Bảo trợ Quỹ, Hội đồng Thẩm định Tài trợ, theo thời gian và đặc điểm tình hình cụ thể, điều hành trực tiếp Ban Quản lý Qũy và Hội đồng Bảo trợ và các hoạt động của Quỹ.
-Quyết định phương hướng, biện pháp hoạt động của Quỹ, đề ra các biện pháp cụ thể, định hướng các nội dung phù hợp với điều kiện để phát triển Qũy
-Ban Quản trị có chế độ giao ban hàng tháng, chỉ đạo các hoạt động của Quỹ bằng văn bản Quyết định, phát huy dân chủ biểu quyết nội dung công việc.
- Vận động những nghệ sĩ tâm huyết với Nghệ thuật Việt Nam tham gia tư vấn, giới thiệu và phát triển thêm hội viên mới.
- Vận động các nhà hảo tâm bảo trợ cho Quỹ hoạt động đúng mục đích và nhiệm vụ của Quỹ.
2-Ban Quản lý Quỹ:
Do Ban Quản trị Quỹ lập và bổ nhiệm nhân sự.
Trách nhiệm:-Thay mặt Ban Quản trị, điều hành các hoạt động của Quỹ, theo Điều lệ; có trách nhiệm báo cáo, tuân theo sự chỉ đạo toàn diện, tuyệt đối của Ban Quản trị.
-Giám đốc Quỹ: Là người do Ban Quản trị chỉ định, bổ nhiệm hay phế chức bằng văn bản, tuân theo sự chỉ đạo của Ban Quản trị, thực hiện các công việc theo quyết định của Ban Quản trị.
-Bổ nhiệm các nhân sự trong Ban Quản lý.
-Ký quyết định công nhận và cấp thẻ Hội viên Quỹ.
-Dưới Giám đốc Quỹ có:
Đội Hành chính và Quản lý Hội viên:- các nhân viên giúp việc, thủ quỹ, nhân viên hành chính, ngoại giao, quản lý-liên hệ-phát triển Hội viên...
-Tùy thuộc vào yêu cầu mở rộng phạm vi hoạt động, Quỹ có thể tổ chức các chi nhánh hoặc đại diện của Quỹ tại các địa điểm trong và ngoài nước. Cơ quan đại diện có Giám đốc chi nhánh đại diện. Việc thành lập các chi nhánh đại diện phải tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành.
- Đội nghiệp vụ Quỹ: Nhiệm vụ:
- Tìm đối tác liên kết, phát hiện tác phẩm, tác giả, liên hệ, liên kết hội viên.
-Dự trù kinh phí in ấn.
-Xin giấy phép nhà xuất bản.
- Công tác thiết kế - chế bản.
-Công tác in ấn.
-Công tác phát hành ấn phẩm
-Phát hiện các nguồn và tiếp nhận các yêu cầu của các tổ chức, cá nhân cần hỗ trợ và chuyển các yêu cầu đó cho Ban sáng lập.
-Đội Tuyên truyền-Văn hóa:-Phụ trách tạp chí chuyên đề, web chuyên đề, công tác quảng cáo, tổ chức văn hóa, giao lưu văn hóa và các hoạt động văn thể.
3-Hội đồng Bảo trợ:
-Hội đồng Bảo trợ Quỹ do Ban Quản trị lập nên, tùy theo điều kiện, thời gian, công việc tài trợ cụ thể.
-Ban Quản trị tùy công việc mà mời, kêu gọi người tham gia Hội đồng Bảo trợ trong một dự án ngắn, hay dài. Nhân sự của Hội đồng Bảo trợ có thể tham gia Ban Quản lý, hoặc Ban Quản trị Quỹ.
-Khi có dự án cần tài trợ, Ban Quản trị lập Hội đồng Bảo trợ cụ thể, có thể là nhân sự cũ, hoặc thêm nhân sự theo yêu cầu, tài trợ trong dự án đó, sau đó nhân sự có thể thôi hoặc tham gia các hoạt động tài trợ khác của Quỹ. Như vậy, Hội đồng Bảo trợ có tính chất linh động, tùy việc, tùy người, không cố định cứng nhắc.
-Hội đồng Bảo trợ có nhiệm vụ:
Hoạt động theo Điều lệ Quỹ.
Có quyền tham gia, quyết định, biểu quyết đối với hoạt động tài trợ liên quan.
Giúp đỡ về mọi mặt cho hoạt động của Quỹ phát triển.
Tham mưu, đề ra chủ trương, phương hướng hoạt động của Quỹ đối với công việc liên quan.
Tham gia quyết định các biện pháp huy động nhằm tăng nguồn vốn của Quỹ.
Lựa chọn, liên hệ các cá nhân, đơn vị cần hỗ trợ giúp đỡ, các giải pháp sáng tạo cần áp dụng để có kế hoạch hỗ trợ, báo cáo Ban Quản trị để có phương thức hoạt động liên quan đến công việc tài trợ cụ thể.
4-Ban Thẩm định Tác phẩm:
-Cơ cấu nhân sự do Ban Quản trị chỉ định.
-Nhân sự của Ban Thẩm định có thể có các thành viên của Ban Quản trị tham gia. Ban Thẩm định cố định nhân sự theo quyết định của Ban Quản trị.
-Nhiệm vụ: Tuân theo sự chỉ đạo trực tiếp, tuyệt đối của Ban Quản trị để thực hiện các nhiệm vụ liên quan; tham mưu, đề xuất, lựa chọn, xây dựng các phương cách để chọn lọc tác phẩm, thẩm định tác phẩm, chọn đối tượng báo cáo Ban Quản trị, để Ban Quản trị nghiên cứu, quyết định tài trợ. Sau khi Ban Thẩm định đánh giá tác giả, tác phẩm, sẽ quyết định báo cáo Ban Quản trị quyết định. Kết quả thẩm định của Ban Thẩm định sẽ là cơ sở giúp Ban Quản lý Quỹ xét và quyết định họp Hội đồng Tài trợ, mời và kêu gọi, tổ chức cách thức tài trợ cụ thể cho đối tượng đó. Do tính chất rất rộng rãi, linh động, nên có thể có các cách huy động tài trợ theo từng điều kiện cụ thể, với đối tượng xin tài trợ cũng như đối tượng được tài trợ khác nhau.
-Hàng năm Quỹ sẽ tổ chức phát động các cuộc thi và lễ trao giải Nghệ thuật tạo không khí thi đua sáng tạo trong toàn thểhội viên, góp phần đẩy mạnh phong trào trên diện rộng và chiều sâu.Ban Thẩm định trực tiếp theo chỉ đạo của Ban Quản trị, mời các văn nghệ sỹ tham gia Ban Giám khảo cụ thể trong từng cuộc thi cụ thể là văn chương, báo chí, văn nghệ dân gian, sân khấu, kịch bản, phim, hội họa....
-Ban Quản trị có quyết định văn bản lập và giải tán Ban Giám khảo cuộc thi cụ thể
-Thành viên Ban Thẩm định có thể tham gia hoặc không tham gia Ban Giám khảo đó, nhưng Trưởng ban Thẩm định phải là Trưởng Ban giám khảo cuộc thi đó.
-Tác phẩm, tác giả được giải, được thông qua Ban Quản trị quyết định cuối cùng và ra nghị quyết quyết nghị bằng văn bản; sau đó Giám đốc Quỹ ra quyết định khen thưởng, công nhận tác phẩm.
-Viết các bài bình luận, phê bình, giới thiệu tác giả, tác phẩm; trực tiếp liên hệ với các văn nghệ sỹ tham gia các hoạt động của Qũy; xây dựng uy tín, chất lượng của công tác văn hóa, văn nghệ của Quỹ.
5-Các tổ chức bảo trợ Quỹ
1) Các tổ chức bảo trợ Quỹ tham gia vào Quỹ với tư cách tập thể, được đại diện bởi người đứng đầu hợp pháp.
2) Các tổ chức bảo trợ Quỹ có quyền lợi và trách nhiệm như sau: - Được quyền yêu cầu Quỹ hỗ trợ về các mặt chuyên môn, nghiệp vụ của tổ chức mình trong khuôn khổ hoạt động của Quỹ và trực tiếp giới thiệu các tập thể, cá nhân cần được Quỹ hỗ trợ.
- Có trách nhiệm tham gia giới thiệu khai thác nguồn nhân tài, vật lực và trực tiếp tạo ra nguồn tài chính của Quỹ bằng sự giúp đỡ, ủng hộ của chính mình và của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, tạo điều kiện cần thiết ban đầu để Quỹ hoạt động.
VI- TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN LỢI CỦA HỘI VIÊN
1- Tự nguyện viết đơn tham gia hoặc thôi tham gia Quỹ, chấp hành nghiêm Điều lệ Quỹ. Được cấp thẻHội viên sau khi Giám đốc Quỹ ký quyết định công nhận Hội viên.
2- Giới thiệu, phát hành các tác phẩm giúp hội viên thu lại một phần kinh phí.
3-Tác phẩm khi xuất bản được bảo trợ một phần kinh phí và giới thiệu phát hành trong hệ thống thư viện của các trường học, của các tỉnh, thành và trong từng hội viên.
4-Được hưởng sự khuyến khích sáng tác, hỗ trợ không hạn chế các đầu sách trong một năm.
5-Tự nguyện tham gia phong trào hoạt động sáng tạo theo tôn chỉ, mục đích của Quỹ.
6-Sẵn sàng tương trợ các tác phẩm của hội viên khác bằng hình thức trực tiếp đăng ký mua và phát hành các ấn phẩm thông qua Quỹ (giá tiền trên một đơn vị ấn phẩm (sản phẩm) được Quỹ điều tiết phù hợp với chất lượng tác phẩm, đảm bảo quyền lợi cho mỗi thành viên.).
7-Tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Quỹ hàng tháng thông qua các thành viên Ban chấp hành. Có thể tham gia đóng góp tự nguyện về tài chính, vật chất đối với Quỹ.
8-Khen thưởng:
- Những thành viên tích cực tham gia Quỹ.
- Những thành viên có tác phẩm đạt chất lượng Nghệ thuật, do Ban thẩm định bầu chọn.
9-Kỷ luật:
-Khai trừ khỏi Quỹ những thành viên không chấp hành nghiêm túc theo quy định Điều lệ của Quỹ.
VII- ĐĂNG KÝ HOẠT ĐỘNG, TRỤ SỞ
1-Đăng ký hoạt động của Quỹ do Ban Quản trị đại diện đăng ký tư cách pháp nhân. Trưởng Ban Quản trị trực tiếp thay mặt Quỹ để đăng ký hoạt động.
2-Cơ quan đăng ký là:.................
3-Trụ sở chính: Telex:
Fax:
Chi nhánh tại TP HCM:
Telex:
Fax:
-Có thể xin các dự án tài trợ đất sau này để lập trụ sở lâu dài, hoặc xây dựng các cơ sở hoạt động theo yêu cầu phát triển của Quỹ.
Điều lệ Quỹ được Ban Quản trị thông qua ngày....................
TẠ VĂN SỸ TRẦN XUÂN ĐẠT - THƠ CỦA LỜI TÂM THỨC (Đọc "Mắt sâm cầm" - nxb Công an nhân dân 2007)
(trích bài đăng trên báo văn nghệ trẻ 2007 của Tạ Văn Sĩ)
Thật bất ngờ và thú vị khi vừa đọc được tin Giải thưởng văn học trẻ Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh năm 2007 về Thơ thuộc về Trần Xuân Đạt (giải nhì, không có nhất) thì liền sau đó nhân chuyến ra Hà Nội, qua giới thiệu của một người bạn, tôi lại được gặp tác giả trẻ này đúng ngày anh từ Quảng Ninh lên Thủ đô đến nhà xuất bản nhận tập thơ đầu tay "Mắt sâm cầm" vừa in xong. Ấy là một chàng trai trẻ (sinh 1974) ít nói, đang làm công nhân kỹ thuật điện ở mỏ than Vàng Danh (Uông Bí). Đạt ký tặng tôi tập thơ, tôi đọc ngay và có đôi điều cảm nhận.
Ấn tượng chung ban đầu là tập thơ chưa thật sự nổi trội, bài chưa thật sự đồng đều; những triết lý, luận giải về thời thế, nhân sinh... chưa đạt độ chín đằm cần thiết! Tuy nhiên, tập thơ cũng cho bạn đọc thấy một cây bút thơ ưu thời mẫn thế, có nhiều trăn trở, tìm tòi trên con đường sáng tạo. Là thanh niên thời hiện tại, ngụp lặn trong dòng phân hóa chênh chao của xã hội đang dao động mạnh, sự đánh lẫn vàng thau chân giả đến chóng mặt khiến Trần Xuân Đạt ngơ ngác rồi tự hỏi: -"Trong kiệt cùng đau đớn/ Trong tận cùng tuyệt vọng/ Trong màu đen tuyệt đối ám ảnh tha hóa/ Tôi hốt hoảng truy tìm bản ngã/ Nhặt được tia sáng ai đó vừa buông rơi!" (Tha hóa)... Là người sáng tác, Trần Xuân Đạt cũng có nhiều ưu tư trăn trở về thiên chức, sứ mạng của ngòi bút: -"Câu thơ sinh ra từ nỗi buồn/ Mang ánh sáng niềm tin nhân loại" (Sinh tồn); -"Câu thơ sinh ra từ ám ảnh/ Không thể ngăn cơn bão!" (Bão); -"Một nét nhạc/ Một lời thơ/ Một trang viết/ Oằn cong ánh nhìn..." (Tha hóa)... Câu thơ được sinh ra từ nỗi buồn, từ ám ảnh, từ oằn cong ánh nhìn... Vâng, thì cũng là một cách luân cảm của người thơ trẻ. Là người lớn lên sau chiến tranh, nhưng nhan nhản đó đây di hậu của chiến tranh để lại vẫn hằng ngày đập vào mắt ập vào tai nhập vào hồn khiến Trần Xuân Đạt có cách riêng của mình để bày tỏ quan niệm về chiến tranh và phận người: -"Phá tan khoảng lặng không bình yên/ Khuôn hình những đứa trẻ tái tạo cuộc chiến/ Không là chứng nhân lịch sử/ Không muốn là chứng nhân lịch sử.../ Không là gánh nặng xã hội và/ Không muốn là gánh nặng xã hội.../ Không có nỗi đau và không muốn có những nỗi đau/ Quá khứ là cánh cửa đóng lại phía sau những chuyến tàu lịch sử/... Bên khuôn hình những đứa trẻ thả ánh nhìn vời vợi.../ Tôi lặng lẽ dệt gom lòng nhân ái/ Và mơ về ngày mai/ Những đứa trẻ dị tật màu cam hóa những thiên thần" (Bên khuôn hình những đứa trẻ)... Thoáng vài nét thơ Trần Xuân Đạt qua một số đề tài để thấy sức cảm sức nghĩ nơi tác giả trẻ này là khá bao quát và phong phú, dẫu đó đây hãy còn dấu vết non tay trong sự diễn đạt những trải nghiệm. Có một đề tài luôn trồi lên, loé sáng như một cảm thức chủ đạo trong thơ Trần Xuân Đạt khiến người đọc muốn gọi đây là thơ của "Lời tâm thức", theo tên một bài thơ trong tập! Ấy là một vệt thơ lấy cảm hứng và ý tưởng được khơi gợi từ mạch nguồn văn hóa tâm linh của dân tộc. Có phải bóng núi thiêng Yên Tử hằng buổi nghiêng trùm về Uông Bí dưới chân mình, có phải khói mây Yên Tử hằng khi cũng phả bóng về đây đã mặc khải cho một người con hằng ngày sống nơi miền đất ấy nhập hòa hồn mình vào dòng cảm thức uyên minh bí uẩn? Chỉ ở chốn thiêng này hồn thơ Trần Xuân Đạt mới thực sự bay bổng phiêu nhiên. Một khí vị thiền mặc bàng bạc hòa quyện trong từng mỗi dòng thơ. Đứng nơi Chùa Đồng trên chót đỉnh Phù Vân, chàng trai trẻ của thời hiện đại nghiệm ra tâm thế của mình: -"Tảng đá ký ức sùi ra/ Quá khứ tái sinh tầng tầng trầm tích/ Thâm trầm đi vào tâm linh.../ Ta mải miết trên đường trở tìm nguồn cội/ Chợt sững sờ/ Kẽ đá/ Một nhành xuân!" (Chùa Đồng). Cũng cùng tâm thế ấy, từ cảnh sắc địa linh của vùng Đông Bắc, chàng trai trẻ lại nghiệm thêm: -"Khỏa tay đón sóng Bạch Đằng/ Chạm áng mây bay qua non thiêng Yên Tử/ Sóng cồn nỗi nhớ/ Mây rát bỏng thời gian.../ Run run bàn tay chạm môi hờ nhánh cỏ/ Ta bắt gặp chính mình/ Bé nhỏ ngu ngơ!" (Lời tâm thức). Hình ảnh nước non thiêng xứ sở cứ trở đi trở lại một cách tiêu dao tĩnh tại trong thơ Trần Xuân Đạt: -"Tay bám mây/ Vai quàng sương Yên Tử/ Bấm từng triền dốc/ Lối tùng rễ buồn nổi múi/ Đá triệu năm khắc bóng rêu xanh/ Rừng trúc sóng dâng/ Bạch Đằng giang khí linh trào khúc" (Đêm khai hội)... Đằm trong khí thiêng cổ kính, Trần Xuân Đạt như một tao nhân mặc khách, luôn mặc tưởng trầm tư về những ẩn ngữ truyền ngôn trước bao di vật, anh cố luận giải, nghiệm suy nghĩa lý sâu xa tàng ẩn trong từng cảnh sắc, từng vật thể để lọc tìm tiếng nói vô ngôn tiền nhân nhắn gửi: -"Thước trắng giữa trời liệng hót/ Báo Ân mài vát không gian/ Điệu Tây giang nguyệt mang mang/ Đường đạo đường đời ảo thực.../ Những lăng tẩm đền đài thành quách/ Biết cách tồn tại nhờ lặng im.../ Hưng vong thịnh suy mỗi thời đại/ Đọng chân hương" (Chùa Báo Ân); -"Mắt tùng ngó sững vào im lặng/ Ánh nhìn xuyên thấu thế gian/ Giải Oan một dòng xuôi chảy/ Huyền thoại xui trúc ngược lên ngàn/ Bên Giải Oan trầm mình trong ánh mắt tùng/ Nhói lòng xa xót/ Bước vua Trần thuở biệt hoàng cung" (Suối Giải Oan)... Linh khí đất nước, hồn thiêng dân tộc như nhập đồng trong thơ Trần Xuân Đạt. Ngay cả khi viết về sự kiện rất mới mẻ, hiện đại như chiếc cầu công nghiệp dây văng Bãi Cháy vừa được hoàn thành bắt qua sông Cửa Lục cũng được diễn đạt bằng hình tượng linh vật Rồng trong truyền kỳ tín ngưỡng: -"Sừng sững vươn qua Cửa Lục/ Sức mạnh của 999 con rồng.../ Tâm khảm Hạ Long/ Không chỉ có ba chiều..." (Cầu Bãi Cháy)... Với một sức cảm, cách nghĩ, lối viết như thế, Trần Xuân Đạt đã ghi được dấu ấn bản sắc về một vùng đất đặc biệt của Tổ quốc. Thăng Long - Hà Nội di chỉ văn hóa cũng là một địa chỉ cho dòng cảm nhận thơ của Trần Xuân Đạt. Bài "Những con rùa đá trong Văn Miếu" đưa anh đoạt giải thưởng văn học trẻ Hạ Long là một ví dụ: -"Ký thác hồn thời đại vào từng nét chạm khắc/ Người nghệ sĩ xưa trăn trở điều gì/ Mà dáng rùa mỗi con một thế.../ Đưa mắt dõi theo những nét chạm khắc/ Chạm ánh mắt rùa rỏ máu khóc/ Thương tiếc tài hoa..."! Bài "Mắt sâm cầm" dùng để gọi tên chung cả tập, Trần Xuân Đạt lại viết về Hà Nội theo cách riêng: -"Tìm giữa lặng im một không gian Hà Nội/ Mây trôi nghiêng phố nắng nghiêng nghiêng/ Hàng liễu nhuộm Hồ Gươm xanh thắm/ Và trăng lên mơ dáng một con thuyền.../Ta tìm riêng Hà Nội một không gian/ Một mảng trầm trong rộn ràng màu sắc/ Đêm qua hình như ta đã gặp/ Tận sâu đáy mắt sâm cầm"... Ấy là những dòng thơ có tầm sâu tâm thức! Những "lời tâm thức" của Trần Xuân Đạt là một góp tiếng nhất định vào dòng thơ trẻ hiện nay bằng lối cảm nghĩ và diễn đạt riêng, không quá ồn ã mà trống rỗng như ở một số "hiện tượng" khác.
* Mời các bạn cùng luận vui giải thưởng là món quà tặng từ tạp chí Văn Chương & Cuộc Sống (được tặng ấn phẩm Văn Chương & Cuộc Sống trong 1 năm kể từ ngày bạn tham gia luận giải).
TƯỞNG NIỆM 424 NĂM NGÀY MẤT THÁI PHÓ TRÌNH QUỐC CÔNG -
TRIẾT GIANG PHU TỬ
Vào hồi 9h30' ngày 12.1.2009 tại Văn miếu Mao Điền tỉnh Hải Dương, nơi phối thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng nhiều danh nhân khác của vùng đất xứ đông diễn ra Ngày Thơ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, đây là lễ tưởng niệm 424 năm ngày mất Thái phó Trình Quốc công - Triết Giang phu tử (28.11.1585 - 28.11.2009 Âm lịch).
Ý tưởng tổ chức Ngày Thơ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, do Câu Lạc Bộ Thơ Việt Nam tỉnh Hải Dương phối hợp cùng Hội Sử học tỉnh Hải Dương, Công tyCông ty Đại Nam Bình Dương, Xí nghiệp Gốm Chu Đậu Hapro.
Ban tổ chức buổi Lễdo Hội sử học tỉnh Hải Dương, Công ty Đại Nam, CLB thơ Việt Nam tỉnh Hải Dương cùng đảm trách điều hành.
Buổi Lễ diễn ra trọng thể trong khí thế tưng bừng và náo nhiệt của nhiều đoàn khách trong và ngoài tỉnh đến tham dự:
Các đoàn khách trong tỉnh có: Sở văn hoá, Ban tuyên giáo, Sở nội vụ, Hội Văn học Nghệ thuật, Trung tâm Văn hoá, Bảo tàng, Trường văn hoá nghệ thuật, Trường Cao Đẳng Sư phạm, CLB thơ Việt Nam Hà Nội, Đại diện UNESCO Đông Bắc, Ông Nguyễn Việt, Ông Dương Trung Quốc, Báo Hải Dương, Truyền hình Hải Dương... Ban chấp hành hội Sử học, Ban chấp hành CLB thơ Việt Nam - Hải Dương, Ông Bùi Thanh Quyến + Bà Minh...